Hallelujah không toả sáng rực rỡ theo kiểu một bản hit càn quét bảng xếp hạng, một hiện tượng âm nhạc gây chấn động toàn cầu. Nó lặng lẽ tồn tại như một di sản vô giá, ngọn lửa âm ỉ sưởi ấm lịch sử âm nhạc thế giới.

Phong cách sáng tác ca Leornad Cohen d làm người ta liên tưởng đến người bn vĩ đại công, v nhc sĩ đầu tiên đạt gii Nobel văn hc Bob Dylan. C 2 chia s vi nhau thứ âm nhc xoáy mnh vào chiu sâu ca t, dn d người nghe bước vào cuộc hành trình mà ở đó, giai điệu mộc mạc đóng vai trò như cầu nối truyền tải thông điệp của lời ca.
Và Hallelujah, ca khúc tiêu tn ca Leornad Cohen nhng 5 năm “thai nghén”  và còn hơn thế nữa để tìm được điểm chạm tới khán giả, chính là một bảo chứng hoàn hảo cho quan điểm âm nhạc kể trên.
 
 

Đập đầu xuống sàn, gần như phát điên vì bất lực

Thđiểm sáng tác Hallelujah, s nghip ca Leornad Cohen đang ở thời kỳ xuống dốc sau khong thi gian dài xa ránh hào quang. Album Death Of A Ladies’ Man hợp tác với nhà sản xuất Phil Spector năm 1977, cũng như album tiếp theo Recent Songs không đạt được thành công cao về mặt thương mại.
 
Có lẽ cũng chính bởi vậy mà Leornad Cohen cu toàn đến gn như tiêu cc vi sn phm tiếp theo. Hallelujah đượông ấủ đến tn 5 năm, khong thi gian mà v sau này nghĩ li, Leornad Cohen không che giu ni ni h thn.
Tôi nh rng mình nm trong phòng khách sn Royalton Hotel, ngay trên thm tri sàn ch vđồ lót, đậđầu liên tc xung sàn và lm bmS không bao gi xong được bài này mt! –Leornad Cohen kể.
5 năm, viết kín 2 cuốn sổ và sản phẩm cuối cùng mà Leornad Cohen có được là tn 80 đoạn thơ khác nhau. Ông la chn, lp ghép và cui cùng rút li còn 4 phiên bn, trong đó bđầđủ nht gm 15 khổ thơ.
 
Trên thc tếông vn tn dng mđoạn thơ đã viết bng cách lp ghép trong nhng phn biu din sau này để đa dng hoá, như cái cách mt ngh sĩ phi qun này áo n mi khi lên sân khu.
 
Hallelujah phiên bản đầu tiên được hát bởi chính Leornad Cohen. Vn là cht ging nam trám khói đầy mê hotrên nền hoà âm chậm mà chắc khiến cho bài hát không khỏi gợi liên tưởng đến một bản thánh ca.
Cng hưởng vào đó, phần lời của bài này Leornad Cohen s dng rt nhiđiển tích t Kinh thánh như: câu chuyện về vua David, chuyện tình yêu của David với nàng Bathsheba,… Mỗi đoạn thơ là một câu chuyện, gồm cả đích danh, cả ẩn ý và vu vơ, với điểm chung là đều hướng đến mô tả tình yêu cùng những mâu thuẫn, nghịch lý.
 
Dù tỏ ra khá khiên cưỡng khi được hỏi về ý nghĩa thông điệp, Leornad Cohen cũng đưa ra câu tr li như sau: S mâu thun gia vn vt có th biến mt, nhưng đó s không còn là nơi chúng ta sng na. Thế gii này đầy ry nhng nghch lý không th hoá gii. Bn không th hoà gii nó theo cách nào khác, ngoài quy phc và chp nhn. Đó chính là điều tôi muốn nói qua bài hát này”.
Hallelujah có thể dịch là “Tán dương Chúa trời”. Và lời giải thích như trên đã càng làm rõ dng ý của Leornad Cohen khi để cụm từ này lặp lại như một cách giải quyết cho những nghịch lý ông đưa ra.

 

Cuộc hành trình của những người giữ lửa

5 năm “thai nghén” Hallelujah có lẽ chưa là gì so với khoảng thời gian gần 20 năm mà Leornad Cohen phi chờ để bài hát này thc s chđếđượđông đảo công chúng.
Leornad Cohen thu âm Hallelujah vào năm 1984. Theo thói quen từ những sản phẩm trước, ông mang bản thu thử đến hãng thu âm CBS. Nhưng cái ông nhận lại, chỉ là một “gáo nước lạnh”.
“Đây là cái gì? Đây đâu có phải nhạc pop. Chúng tôi sẽ không bao giờ phát hành nó. Thật thảm hoạ” – chủ tịch CBS đã dội vào Leornad Cohen nhng li như vy.
 
Thế rồi thì Hallelujah cũng được phát hành nhưng bởi một hãng thu độc lập nhỏ bé Passport Records, nằm trong album Various Position ra mắt tại châu Âu vào năm 1984 và tại Mỹ một năm sau. Đáng buồn thay, đĩa đơn này và cả album lại tái lập lịch sử của những sản phẩm trước khi thu về danh tiếng lẹt đẹt. Chỉ như một gợn sóng nhỏ trong đại dương âm nhạc rộng lớn thời điểm bấy giờ, Hallelujah đứng trước nguy cơ bị rơi vào quên lãng.
Người đầu tiên phát hiện ra giá trị tiềm tàng của Hallelujah, chính là Bob Dylan. Quen biết và nhiều lần qua lại trao đổi với Leornad Cohen về công việc sáng tác, Bob Dylan bị ấn tượng bởi cách dùng từ ngữ cũng như giai điệu mê hoặc của ca khúc này nên đã nhiều lần đưa nó lên sân khấu biểu diễn.
 
Có một giai thoại được Leornad Cohen khi sinh thời kể lại khá nhiều lần khi nhắc về mối tương giao với Bob Dylan. Đó là khi Bob Dylan hỏi ông sáng tác Hallelujah trong bao lâu, ông ái ngại nói là 2, 3 năm. Đến khi hỏi lại Bob Dylan đã viết I And I trong bao lâu, ông nhận được câu trả lời “khoảng mười lăm phút”.
 
Dù bị ấn tượng đầu tiên, nhưng Bob Dylan chưa từng thu âm chính thức Hallelujah. 2 cái tên quan trọng nhất giúp Hallelujah bước đến điểm toả sáng rực rỡ phải kể đến John Cale và Jeff Buckley. Trong khi phiên bản của John Cale không được chú ý nhiều, thì Jeff Buckley lại thành công khi biến Hallelujah trở thành sản phẩm để đời nhất trong sự nghiệp với hàng loạt thứ hạng chót vót.
John Cale tình cờ nghe Leornad Cohen hát live Hallelujah trong một buổi biểu diễn tại New York và quyết định ngay phải cover nó. John Cale trình bày ý tưởng này với Leornad Cohen, và nhận lại 15 trang giấy với đầy đủ toàn bộ lời bài hát. John Cale sau đó lựa chọn những khổ thơ táo bạo nhất đưa vào phiên bản của mình, nằm trong album Im Your Fan, album bày tỏ niềm cảm mến đối với Leornad Cohen, phát hành năm 1991.
 
Thú vị thay, chính ý tưởng của John Cale lại dẫn đến phiên bản của Jeff Buckley khi anh nghe được album Im Your Fan từ một người hàng xóm. Đặc biệt hơn nữa, phiên bản của Jeff lại được chính hãng thu âm CBS phát hành, cho thấy họ cuối cùng đã thay đổi thái độ và nhận thấy giá trị của ca khúc này, chưa quá muộn.
 
Cũng như bản gốc, Hallelujah của Jeff Buckley không được ra mắt dưới dạng đĩa đơn mà đơn thuần nằm trong album Grace, phát hành năm 1994. Với tiềm lực của CBS, đây là phiên bản cover ghi được nhiều danh tiếng nhất, dù phải chờ tận 9 năm sau đó. John Legend đã gọi đây là “một trong những bản thu âm đẹp nhất mà tôi từng nghe”.
 
Không phải Leornad Cohen, mà chính Hallelujah của Jeff Buckley được đưa vào lưu trữ tại Thư viện Quốc hội Mỹ với danh vị Bản thu âm quốc dân.
Theo ước tính, có tới trên 200 phiên bản của Hallelujah. Bài hát này cũng góp mặt trong số những soundtrack của phim hoạt hình Shrek vào năm 2001, nhờ đó mở rộng phạm vi đối tượng khán giả, đặc biệt là nhóm khán giả trẻ em.
 
Số lượng những phiên bản của nó nhiều đến mức, Leornad Cohen đã từng một lần thốt lên với báo chí: “Đây là bài hát hay. Nhưng nhiều người hát quá!”.

SẢN PHẨM NỔI BẬT

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.